Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

'Việt Nam cần tỉnh táo trước khiêu khích của Trung Quốc'


"Trung Quốc đang thử thách, khiêu khích và chờ đợi sự mất bình tĩnh của chúng ta. Thời gian tới Trung Quốc không dừng lại mà sẽ còn tiếp tục có những hoạt động mạnh", nguyên trưởng ban biên giới Chính phủ đánh giá.

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ trao đổi với VnExpress sau sự kiện Trung Quốc tiếp tục phá cáp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
- Tại Đối thoại an ninh khu vực Shangri La vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc liên tục nhắc đến "hòa bình". Vậy tại sao, vừa trở về, họ đã tiếp tục có hành động phá hoại tàu thăm dò Viking 2 của Việt Nam?
- Dư luận trong nước và quốc tế vừa qua đã có tiếng nói khá mạnh mẽ. Riêng tiếng nói chính thức Việt Nam rất cương quyết. Các nước Philippines, Malaysia cũng thế. Về mặt nguyên tắc, Mỹ vẫn thể hiện thái độ của mình, không từ bỏ lợi ích của mình ở Biển Đông. Nhưng về mức độ, so với tuyên bố năm ngoái của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gate không mạnh mẽ bằng.
Trong khi đó, trước khi xảy ra vụ cắt cáp của tàu Bình Minh 2 cũng như trước hội nghị Shangri La, các quan chức cấp cao Trung Quốc đã có hàng loạt chuyến công du lobby ngoại giao để tạo thuận lợi cho những hành động trên thực địa. Và với tuyên bố không đủ mạnh của các bên dẫn đến việc Trung Quốc mạnh dạn phớt lờ dư luận.
Clip tàu Viking II bị tàu Trung Quốc uy hiếp
- Với việc liên tiếp uy hiếp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, Trung Quốc đang muốn gì, thưa ông?
- Sự kiện tàu Trung Quốc phá cáp của Viking II ngày 9/6 là một bước trong loạt hành động của Trung Quốc trong việc tìm cách cản phá việc thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Điều này tôi có thể hình dung và phán đoán khi xâu chuỗi các hành động đối với các nước trong khu vực. Chỉ trong vòng nửa tháng, các tàu Trung Quốc từ hải giám, ngư chính đến tàu cá đã hai lần ngang ngược xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam để tấn công, phá hoại cáp thăm dò trên các tàu thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Bên cạnh đó, tàu Trung Quốc còn dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam và nhiều lần xâm phạm chủ quyền của Philippines.
Mục đích của họ không thay đổi về chiến lược đó là là hành động để hiện thực hóa tham vọng đường lưỡi bò. Tuy nhiên, với hành động cụ thể lần này, Trung Quốc tiếp tục thử thách phản ứng của Việt Nam, thử thách các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Với các hành động cụ thể vừa rồi với Bình Minh 02 và Viking II, ý đồ trước mắt của họ là đánh vào kinh tế, quan hệ kinh tế và sự hợp tác làm ăn giữa các công ty Việt Nam và các công ty nước ngoài, phát lời cảnh báo với các đối tác đang, hoặc có ý định làm ăn với Việt Nam. Họ đánh vào quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước. Đây là hành động tính toán cực kỳ kỹ lưỡng.
Trong thời gian tới Trung Quốc không dừng lại mà sẽ còn tiếp tục có những hoạt động mạnh hơn như tiến tới khoan thăm dò sau khi đã phân lô trên Biển Đông, đặt giàn khoan trên biển. Tất cả là nhằm hợp thức hóa yêu sách về chủ quyền trên biển.
Ảnh: PetroTimes.
Tàu Viking 2 của Việt Nam. Ảnh: PetroTimes.
- Trung Quốc biết rõ tàu thăm dò Viking 2 của Việt Nam có tàu bảo vệ, vì sao họ vẫn phá rối?
- Có nhiều lý do, nhưng dưới góc độ thực tế họ tính toán tới lực lượng sức mạnh tại chỗ trong thời điểm đó. Khi hành động, đối đầu trực diện thì họ tính tới sự bảo vệ của mình với tàu thăm dò. Nếu sự bảo vệ không đủ, họ sẽ mạnh dạn quấy phá. Thứ hai là thời điểm tiến hành, họ tính toán lúc thuận lợi nhất để cho tàu cá chạy vào khu vực ta đang thăm dò.
Việc dẫn theo 2 tàu kiểm ngư, trong đó có tàu 311 có trọng tải tới hơn 4.000 tấn chứng tỏ không hề ngẫu nhiên. Họ tính rất kỹ, nấp dưới danh nghĩa dân sự nhưng tôi cho rằng đó là lực lượng quân sự nấp dưới vỏ bọc dân sự, hành chính. Trung Quốc có sức mạnh, nhưng về lý, về lẽ phải họ không có.
- Theo ông, Việt Nam cần có hành động và thái độ như thế nào sau tàu Viking 2 và tàu Bình Minh liên tiếp bị uy hiếp?
- Trung Quốc đang quấy phá, tạo ra sự tranh chấp, dựng lên tranh chấp để cố chứng tỏ với thế giới rằng họ có lợi ích ở đây và cần đàm phán với họ. Đấy là điểm cốt yếu chí tử của họ khi áp đặt ý chí chủ quan nhưng không có cơ sở gì về đường lưỡi bò.
Trước những hành động cụ thể như trong vụ tàu Viking II thì chúng ta nên biến tuyên bố về nguyên tắc - những gì mình nói với thế giới - thành những việc làm cụ thể. Ví dụ như yêu cầu Trung Quốc bồi thường; lập thủ tục hồ sơ để đưa ra cơ quan tài phán quốc tế và có tiếng nói chính thức lên Liên Hợp quốc.
Chúng ta cũng cần nói rõ với các nước trong khu vực, nói với các nước lớn có lợi ích trên Biển Đông. Tức là mình phải tiến thêm một bước cụ thể hơn nữa chứ không chỉ có tuyên bố về nguyên tắc.
Ngư chính 311, một trong các tàu vào giải cứu cho tàu cá Trung Quốc trong vụ Viking II hôm qua. Đây là tàu lớn nhất trong đội ngư chính của Trung Quốc, được hoán cải từ một tàu chiến. Ảnh: China Daily
Ngư chính 311, một trong các tàu yểm trợ cho tàu cá Trung Quốc trong vụ Viking II. Đây là tàu lớn nhất trong đội ngư chính của Trung Quốc, được hoán cải từ một tàu chiến. Ảnh: China Daily
- Có ý kiến cho rằng, các nước ASEAN đang tự làm suy yếu mình vì không đưa ra tuyên bố chung trước những hành động gây hấn của Trung Quốc. Ông nghĩ sao?
- Từ trước tới nay Trung Quốc vẫn dùng chiêu bài "song phương" đối với các nước ASEAN để đánh lẻ, bẻ từng chiếc đũa. Họ nhằm vào từng nước để lôi kéo hoặc phá rối mối liên kết nội khối. Rõ ràng, họ vẫn tiếp tục, không muốn đàm phán đa phương, quốc tế hóa. Nếu các quốc gia ASEAN sơ hở, Trung Quốc sẽ lợi dụng.
Tôi cho rằng, sau hành động lần này của Trung Quốc, với tư cách là một bên ký tuyên bố DOC, khối ASEAN cần có chung tiếng nói đủ rắn mà không phải chờ tới cuộc họp thường kỳ nào. Một tuyên bố chung là rất có ý nghĩa vào lúc này để nói lên ý chí, sự thống nhất của khối. Chỉ với sự thống nhất, các nước lớn có mối quan tâm về an ninh khu vực như Mỹ, Nga, Ấn Độ... mới có cách tiếp cận chính thức với những bất ổn trên biển Đông.
- Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam cần có hành động cứng rắn hơn nữa trước sự xâm phạm chủ quyền của phía Trung Quốc. Quan điểm của ông thế nào?
- Hành động của Trung Quốc là sự thử thách, khiêu khích. Họ chờ đợi sự mất bình tĩnh của chúng ta. Thậm chí, có thể họ đã tính đến việc mình không kiềm chế được và nổ súng trước vào các lực lượng mang vỏ bọc dân sự của họ.
Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước chúng ta đã có những thời điểm tương tự như hiện nay. Trung Quốc đang thử thách lòng kiên nhẫn, sự chịu đựng từ phía các lực lượng của Việt Nam. Chỉ cần mình mất tỉnh táo, bình tĩnh, sử dụng vũ lực thì họ sẽ lấy cái cớ đó để tiến hành các hoạt động ở mức độ quân sự.
Cái quan trọng nhất là chúng ta phải bình tĩnh, kiềm chế, tiếp tục hành xử theo đúng quy định, thủ tục pháp lý. Nếu mình làm đúng như vậy thì lẽ phải thuộc về mình, không có gì phải sợ.
Ảnh: Nguyễn Hưng.
"Tuyệt đối không dùng vũ lực. Tránh rơi vào cạm bẫy khiêu khích của họ". Ảnh: Nguyễn Hưng.
- Nếu các lực lượng mang vỏ bọc dân sự của họ tiếp tục phá hoại, chúng ta cần chuẩn bị cho tình huống tiếp theo như thế nào?
- Điều cần khẳng định đầu tiên là chúng ta nhất định không được vì sự quấy phá, xâm phạm của Trung Quốc mà ngừng các hoạt động bình thường trong vùng biển chủ quyền của mình. Nếu dừng lại, chúng ta sẽ rơi vào thế yếu, tạo cớ cho Trung Quốc rêu rao trên các diễn đàn thế giới cũng như với dư luận Trung Quốc về thứ chủ quyền mà họ vẽ ra.
Còn nếu họ tiếp tục phá, ta phải có cách ngăn cản theo đúng thủ tục pháp lý. Ví dụ trong trường hợp Viking II thì các lực lượng của Việt Nam hoàn toàn có quyền bắt giữ tàu cá, dẫn độ vào bờ, làm đúng thủ tục và đưa ra xét xử tại tòa án. Công ước Luật biển 1982 đã nói rõ điều đó, có điều phải tuyệt đối không dùng vũ lực. Tránh rơi vào cạm bẫy khiêu khích của họ.


'Trung Quốc đang sử dụng vỏ bọc bán quân sự trên biển Đông'

"Trên thực địa Trung Quốc đang sử dụng các lực lượng bán quân sự như ngư chính, hải giám. Vỏ bọc bán quân sự này để tránh hình ảnh xung đột vũ trang, đụng độ", tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu biển Đông phân tích.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy đã có cuộc trao đổi với VnExpress, sau khi ông vừa trở về từ Hội thảo quốc tế về biển Đông tại Jakarta (Indonesia),
- Những nội dung đáng chú ý nào đã được đưa ra tại hội thảo biển Đông lần này, thưa ông?
- Hội thảo tại Jakarta tuy hình thức là hội thảo học thuật nhưng đã thu hút được sự chú ý lớn ở Indonesia, tham dự hội thảo có cả giới quan chức nước sở tại, ngoại giao đoàn, Ban thư ký ASEAN, báo chí, nên có tác động rất lớn đến dư luận. Các học giả tập trung đánh giá các phát triển gần đây ở biển Đông, phân tích các cơ chế hiện có trong việc quản lý tranh chấp, đề ra các biện pháp giúp tăng cường hợp tác và giảm nhẹ căng thẳng.
Hội thảo học thuật thường có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tuy nhiên tại Hội thảo lần này có thể thấy nhiều nội dung được đa số đại biểu thống nhất. Các học giả đều cho rằng biển Đông bao gồm nhiều vấn đề, có cả các vấn đề chỉ song phương (như tranh chấp quần đảo Hoàng Sa); đa phương (như tranh chấp quần đảo Trường Sa), các vấn đề về chồng lấn vùng biển, thềm lục địa, vấn đề tự do hàng hải, hòa bình ổn định khu vực. Ngoài ra còn có tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến hoạt động của tàu quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế. Do đó lợi ích, lập trường của các bên liên quan đối với từng vấn đề cũng khác nhau và cần có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Về các diễn biến gần đây, có nhiều ý kiến quan ngại về tình hình sẽ ngày càng căng thẳng do các bước đi mạnh bạo của Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh các cơ chế quản lý tranh chấp hiện có (như DOC) có nhiều điểm hạn chế.
Hội thảo đã ra Tuyên bố Jakarta đề cập nhiều vấn đề, trong đó coi "đường lưỡi bò" là không phù hợp với luật pháp quốc tế và kêu gọi ASEAN cần phải đoàn kết hơn nữa để đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.
Đường lưỡi bò
Bản đồ đường yêu sách 9 đoạn (hay đường lưỡi bò) Trung Quốc gửi kèm công hàm lên Liên Hợp quốc năm 2009 phản đối báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam. Ảnh: T.L.
- Chiến lược của Trung Quốc đối với biển Đông được các học giả nhìn nhận như thế nào?
- Nhiều học giả đánh giá tuy Trung Quốc không công khai rõ tính chất của "đường lưỡi bò", nhưng cách hành xử của Trung Quốc là muốn kiểm soát trên thực tế. Trung Quốc muốn kiểm soát tài nguyên theo "đường lưỡi bò", nhất là dầu khí và thủy sản, và tìm cách đẩy Mỹ càng xa càng tốt bằng cách giải thích Công ước luật biển theo cách có lợi nhất cho mình.
Chiến lược của Trung Quốc một mặt ép các nước khác “gác tranh chấp, cùng khai thác” trong đường lưỡi bò. Mặt khác, Trung Quốc ngăn cản các hoạt động phát triển tài nguyên của các bên khác trong đường này. Ngoài các biện pháp chính trị - ngoại giao, trên thực địa Trung Quốc ngăn cản bằng cách sử dụng các lực lượng bán quân sự như ngư chính, hải giám. Vỏ bọc bán quân sự này để tránh hình ảnh xung đột vũ trang, đụng độ, chứng tỏ Trung Quốc chỉ “sử dụng các biện pháp hòa bình”.
- Ngay trước thềm hội thảo xảy ra sự kiện Bình Minh 02 và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng, Trung Quốc có chủ quyền với vùng biển xảy ra sự kiện này. Các học giả bình luận gì về tuyên bố này?
- Thời điểm hội thảo xảy ra ngay sau vụ tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 nên thu hút được sự chú ý của các đại biểu. Phần tham luận của tôi khi phân tích các diễn biến gần đây tại biển Đông và tác động đến an ninh và hợp tác khu vực, tôi cũng đã dùng bản đồ để chỉ ra vị trí xảy ra sự kiện Bình Minh 02. Hầu hết các học giả cho rằng hành xử và tuyên bố của phía Trung Quốc là phi lý. Vị trí xảy ra sự kiện không chỉ nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam mà còn nằm bên trái của đường trung tuyến giả định của bờ biển Việt Nam và các vị trí gần bờ nhất của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Do đó kể cả giả thuyết là Trung Quốc lập luận chủ quyền đối với hai quần đảo (mà Việt Nam phản đối) và hai quần đảo có hiệu lực 100% đối với phân định biển (điều này cũng hoàn toàn không phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế), thì theo Công ước luật biển 1982, vị trí xảy ra sự kiện cũng thuộc vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Lập luận về “quyền lịch sử” của Trung Quốc theo "đường lưỡi bò" thì hoàn toàn không phù hợp luật pháp quốc tế.
Đa số đánh giá, sự kiện này xảy ra không lâu sau sự kiện Bãi Cỏ Rong tháng 3 khi Trung Quốc ngăn cản Philippines thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này càng dấy lên quan ngại của các nước về cách hành xử của Trung Quốc. Hình ảnh “phát triển hòa bình” của Trung Quốc đang bị ảnh hưởng.
- Có ý kiến cho rằng, chiêu bài quen thuộc trên biển Đông của Trung Quốc là “vừa lấn vừa đàm” và Việt Nam nên tăng cường tiềm lực quân sự. Quan điểm của ông thế nào?
- Theo tôi, chiến lược của Việt Nam đối với vấn đề biển Đông cần tiếp tục được hoạch định mang tính tổng thể, hệ thống. Là nước nhỏ hơn trong quan hệ bất đối xứng thì vũ khí chính mà ta cần sử dụng là ngoại giao, thông qua luật pháp quốc tế, tăng cường đan xen lợi ích, thu hút sự ủng hộ của quốc tế và khu vực.
Thời gian tới, theo các nghiên cứu của chúng tôi thì khả năng xảy ra đụng độ vũ trang là rất hạn chế, bởi đụng độ về quân sự sẽ gây thiệt hại cho tất cả các bên, kể cả Trung Quốc. Ngoài các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế thì Trung Quốc hiện đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á, Tuyên bố ứng xử các bên ở Biển Đông, trong đó có điều khoản cấm sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp. Quan trọng hơn, nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực sẽ làm các nước ASEAN lo sợ, đoàn kết và xích lại gần Mỹ hơn, hình ảnh “phát triển hòa bình” mà Trung Quốc dày công xây dựng sẽ chấm hết, Trung Quốc sẽ không còn môi trường hòa bình cho phát triển như hơn 30 năm qua.
Tuy nhiên, theo tôi, Việt Nam cũng cần tăng cường “sức mạnh cứng” theo hướng tự vệ, đủ để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của đất nước, trong điều kiện hài hòa đầu tư nguồn lực cho an ninh và phát triển. “Sức mạnh cứng” cần được tăng cường theo hướng “răn đe”, ngăn ngừa đụng độ và nhằm hỗ trợ cho mặt trận ngoại giao, chính trị. Điều quan trọng nữa là cần đầu tư cho các lực lượng thực thi pháp luật nhằm thực hiện chấp pháp của Việt Nam trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta.
Tiến sĩ Trần Trường Thủy. Ảnh: Nguyễn Hưng.
Tiến sĩ Trần Trường Thủy. Ảnh: Nguyễn Hưng.
- Để cộng đồng quốc tế hiểu rõ về tình biển Đông, vấn đề phát triển đội ngũ các nhà nghiên cứu biển Đông của Việt Nam cần được giải quyết như thế nào?
- Vấn đề biển Đông là vấn đề phức tạp, liên quan nhiều nhân tố, lĩnh vực; các tranh chấp nhiều khả năng không thể giải quyết dứt điểm trong tương lai gần. Do đó cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu toàn diện về biển Đông để phân tích, nắm rõ tình hình mới có thể có các kiến nghị chính sách đúng đắn.
Giới học giả nghiên cứu về Biển Đông có rất nhiều nhiệm vụ: phổ biến kiến thức; kiến nghị chính sách; đấu tranh quốc tế trên kênh 2 (kênh học giả) nhằm bảo vệ các lợi ích và chính sách của ta; viết bài đăng tạp chí quốc tế nhằm thu hút sự ủng hộ của dư luận quốc tế.
Tuy nhiên, có thể nói năng lực hiện nay vẫn còn không theo kịp yêu cầu. Đơn giản như tìm người có khả năng tham dự và “chiến đấu” trong các hội thảo hội nghị quốc tế về biển Đông cũng không phải là nhiều. Hay học giả Việt Nam cũng không có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín. Do đó điều cấp thiết hiện nay là cần đầu tư hơn nữa cho việc xây dựng đội ngũ nghiên cứu về biển Đông, cả nâng cao năng lực đội ngũ hiện tại và xây dựng lực lượng trong dài hạn; cử người đi học ở nước ngoài; cấp nhiều học bổng cho sinh viên trong nước viết luận văn, luận án về đề tài Biển Đông. Không chỉ Nhà nước đầu tư mà cần cả theo hướng xã hội hóa. Chúng tôi sắp tới cũng sẽ lập quỹ hỗ trợ các sinh viên, thạc sỹ viết luận văn tốt nghiệp về đề tài Biển Đông.
Tiến sĩ Trần Trường Thủy (sinh năm 1978) từng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về Biển Đông ở Đại học Tổng hợp RUDN, Moscow, Liên bang Nga, với đề tài "Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông" dưới góc độ lịch sử quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin mời bạn cho một nhận xét để động viên người viết.
(Nhận xét của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng)

Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang