Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016

Chuyện ít biết về mặt trận Vị Xuyên: Cuộc chiến khốc liệt

Ngày 12/7/1984, quân đội Việt Nam phản công giành lại những điểm cao bị Trung Quốc chiếm giữ ở Vị Xuyên (Hà Giang), 820 chiến sĩ đã bị thương, sư đoàn 356 có  khoảng 600 người hy sinh.
Tháng 2/1979, Trung Quốc đồng loạt tấn công vào biên giới sáu tỉnh phía Bắc của Việt Nam. Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều, đánh bại "chiến thuật biển người, thọc sâu phá hoại" của quân Trung Quốc, buộc họ phải rút khỏi Việt Nam vào ngày 18/3.

Dù Trung Quốc rút quân, nhưng trong thư gửi chiến sĩ, đồng bào các tỉnh biên giới quân khu 2, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng lúc bấy giờ nhấn mạnh: "chiến sĩ đồng bào cần nêu cao cảnh giác, vì kẻ địch còn ngoan cố và tiếp tục gây thêm nhiều tội ác mới. Cần tăng cường đoàn kết các dân tộc anh em, đoàn kết quân dân, đoàn kết phía trước và phía sau, thực hiện tốt hơn nữa cuộc vận động “phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu” của các lực lượng vũ trang nhân dân".

Đúng như lời dự đoán, Trung Quốc không hoàn toàn rút quân mà vẫn duy trì lực lượng ở biên giới và lãnh thổ Việt Nam khiến cho chiến sự tiếp diễn suốt 10 năm sau đó.

Thị xã Hà Giang đầu năm 1984, đường phố hối hả với đủ loại xe vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược… lên trận địa. Thanh niên các phường, xã hăng say luyện tập bên sườn núi. Hầm trú ẩn được xây dựng khắp nơi, từ trường học đến xí nghiệp, khu chợ. Học sinh nườm nượp đến đơn vị dân quân tự vệ đăng ký lên đường chiến đấu, phục vụ chiến trường biên giới.

Từ tháng 4/1984, súng nổ không ngừng ở biên giới Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang). Trung Quốc dùng cả bộ binh và pháo binh, tấn công chiếm một số điểm cao ở vùng núi Hà Tuyên. Lúc này, Hà Tuyên chia làm hai tuyến, tuyến trước là vùng chiến sự trong phạm vi tấn công lấn chiếm của Trung Quốc, trong tầm phá hoại của pháo binh, còn tuyến sau là những vùng tương đối ổn định phục vụ tuyến trước.

Lấn chiếm biên giới tại mặt trận Thanh Thuỷ, Vị Xuyên là một phần cuộc chiến tranh phá hoại mà Trung Quốc tiến hành từ sau thất bại của cuộc chiến xâm lược quy mô lớn trên các tỉnh biên giới phía Bắc tháng 2/1979. Đây là một dạng chiến tranh đặc biệt về phương thức tác chiến, vũ khí sử dụng, thời gian và không gian.

Trên hướng quân khu 2 mà trọng tâm là Vị Xuyên, Thanh Thuỷ, Trung Quốc tập trung một lực lượng binh, hoả lực lớn gồm 4 tập đoàn quân, 4 quân đoàn độc lập thuộc 8 đại quân khu: Côn Minh, Thành Đô, Nam Kinh, để lần lượt thay phiên tiến công lấn chiếm vùng biên.

Trung Quốc vừa dùng máy bay, thám báo, biệt kích luồn sâu sang đất Việt Nam nắm tình hình, vừa kết hợp bắn cấp tập pháo cối, chế áp các điểm cao, trục đường giao thông và lực lượng bộ binh tấn công lấn chiếm đất ta. Cách đánh của chúng không theo quy luật, không kể ngày đêm, tập trung mật độ lớn với mức độ huỷ diệt vào những khu vực trọng điểm như đồi Đài, Cô Ích, cao điểm 685, Cót Ép, khu 4 hầm. Số lượng đạn, pháo cối địch sử dụng trung bình mỗi ngày từ 10.000 đến 20.000 quả. Có ngày tới trên 65.000 quả (7/1/1987).

Trong hơn 5 năm (1984-1989), số lượng pháo Trung Quốc bắn vào Hà Tuyên là trên 2 triệu quả, trong đó 60% là đạn cối. Phạm vi địch bắn phá tập trung vào hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ trong khoảng diện tích 20 km2. Thị xã Hà Giang cách biên giới Thanh Thuỷ 20 km không bị bắn phá nên sinh hoạt vẫn diễn ra trong không khí thời bình.

Với cách đánh có chuẩn bị, Trung Quốc kết hợp tấn công chính diện với bao vây vu hồi, tiến công liên tục bằng nhiều thế đội, trung bình 3-5 lần mỗi ngày, thay phiên chiến đấu, thực hành chiến thuật lấn đẩy với lực lượng từ cấp đại đội đến sư đoàn trên các điểm tựa ở Thanh Thuỷ và Tây Sông Lô.

Từ ngày 2/4 đến 27/4/1984, Trung Quốc bắn pháo liên tục vào các trận địa phòng ngự của ta trên toàn tuyến biên giới. Ngày 28/4, Trung Quốc dùng lực lượng bộ binh đánh chiếm điểm cao 1509, 1030, 772. Năm 1984 ngoài 23 vụ khiêu khích trên toàn tuyến, địch tổ chức 3 đợt tấn công quy mô từ cấp đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, lấn sâu vào đất ta 500-2.000 m.

Năm 1985 với 7 đợt tiến công lớn, Trung Quốc chiếm các cao điểm có vị trí quan trọng ở Thanh Thuỷ, Vị Xuyên như 1509, 685, 1100, 900, bình độ 300, 400, đồi Chuối, đồi Đài, Cô Ích, A6. 

Bên cạnh tấn công bằng bộ binh, Trung Quốc sử dụng pháo cối bắn phá các điểm tựa và trục đường vận chuyển của Việt Nam.

Giành lại cao điểm

Để đối phó với âm mưu của Trung Quốc, Việt Nam tập hợp một lực lượng lớn gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Lực lượng vũ trang đóng ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc khoảng 30 vạn người. Riêng Vị Xuyên - hướng trọng điểm thường xuyên có 3 trung đoàn bộ binh và 2-3 sư đoàn.

Cuối tháng 6/1984, Việt Nam quyết định phản công. Trong trận chiến giành lại cao điểm 772, sư đoàn 356 đã tổ chức hàng chục đợt tấn công dưới sức ép hỏa lực địch từ trên xuống. 

Trong năm năm, tỷ lệ thương vong hỏa tuyến cao nhất là sư đoàn 313. Ở sư đoàn này, trung bình mỗi ngày có 3 thương binh, ngày cao nhất là 23 thương binh. Trên toàn mặt trận Vị Xuyên, ngày cao nhất có 820 người bị thương (12/7/1984), trong đó chỉ riêng sư đoàn 356 đã có khoảng 600 người hy sinh. Năm 1989, sư 356 giải thể.

Do Trung Quốc khống chế các tuyến đường bộ nên quá trình vận chuyển thương binh ở hỏa tuyến rất khó khăn. Bộ đội vận tải phải qua vách đá, đèo dốc, nhiều chỗ phải trườn bò, dùng tời đưa thương binh xuống từng vách đá. Tỷ lệ thương vong của bộ đội vận tải tải thương chiếm 30% tổng số thương binh. 

Việt Nam cũng 7 lần thay phiên chiến đấu cấp trung đoàn, sư đoàn. Thời gian mỗi đơn vị chiến đấu phòng ngự tại mặt trận Thanh Thuỷ, Vị Xuyên trung bình là 6-9 tháng (trước đó, cuộc chiến phòng ngự ở Thành cổ Quảng trị chỉ 82 ngày đêm, chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum 179 ngày). Hình thức chiến đấu của sư đoàn chủ yếu là phòng ngự, giữ từng mỏm đá, ngọn đồi và các điểm cao.

Mặt trận Vị Xuyên - Thanh Thuỷ được xác định là vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh chống lấn chiếm biên giới phía Bắc 1984-1989. Trong vòng 4 tháng (4/1984 - 8/1984), Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 7.500 quân Trung Quốc. Tuy vậy, đến nay chưa có tài liệu chính thức nào công bố tổng số người thương vong của hai phía. Cuộc chiến dù quy mô không lớn nhưng rất quyết liệt, căng thẳng và đau thương, như nhà thơ Lê Vân từng khắc khoải: 
Giặc Trung Quốc đánh Hà Tuyên
Sông Nho Quế gầm lên bão sóng
Súng trả lời với súng
Xác quân thù chồng chất biên cương.
Nguồn vnexpress



Chiến tranh bảo vệ biên giới 1979: Khi đặc công Việt Nam xuất trận

Trong khi cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế của quân đội Việt Nam đang đến giai đoạn giành thắng lợi thì ngày 17/2/1979 Trung Quốc đưa quân tràn sang xâm lược suốt dải biên giới từ Móng Cái tới Lai Châu

Tháng 2/1979, Bộ Quốc phòng lệnh cho Bộ Tư lệnh Đặc công điều động Tiểu đoàn đặc công 27 và Tiểu đoàn 198 trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Đồng thời Bộ điều động Tiểu đoàn đặc công 45 phối thuộc cho Bộ Tư lệnh Quân khu 1 tham gia chiến đấu.
Quân dân địa phương phối hợp chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979
Tiểu đoàn đặc công 45 nhận nhiệm vụ chiến đấu ngay trong đêm 17/2, lên đường cơ động di chuyển hàng trăm km đến 22h ngày 19/2 tới vị trí tập kết. Tiểu đoàn lúc đầu do đại úy Phạm Xuân Trường chỉ huy, tiếp theo do thượng úy Hoàng Mạnh Thời chỉ huy. Cùng đi với tiểu đoàn có các cán bộ chỉ huy đặc công của Quân khu 1 và Bộ tư lệnh đặc công.
Tại vị trí tập kết, khí thế của cán bộ chiến sĩ ngùn ngụt nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn trước tình thế nhận lệnh chiến đấu gấp, thời gian chuẩn bị gần như không có; địa bàn tác chiến mới lạ; di chuyển quãng đường dài khiến sức khỏe giảm sút. Ta cũng chưa rõ trình độ và khả năng chiến đấu của đối phương. Hơn nữa Tiểu đoàn 45 là đơn vị mới thành lập, chưa từng tham gia chiến đấu thực tế trận nào nên còn thiếu kinh nghiệm.
5h sáng ngày 20/2, toàn lực lượng của tiểu đoàn đã khẩn trương vào vị trí, triển khai đào hầm hào, công sự chiến đấu. Trong đợt 1, từ ngày 20/2 đến 4/3, tiểu đoàn thực hiện đánh phòng ngự giữ chốt lựa thời cơ phản kích nhanh nhằm tạo thế cho đợt chiến đấu thứ 2.

Trong đợt 2, từ 8/3- 14/3, các chiến sĩ của tiểu đoàn triển khai trinh sát 4 điểm, đánh 2 trận, phục kích 1 trận, tập kích 1 trận.
Ngày 10/3 thiếu úy Đào Văn Quân - chính trị viên phó đại đội vừa chỉ huy vừa trực tiếp chiến đấu tổ chức lực lượng luồn sâu đánh hiểm bám theo quốc lộ 3. Tiểu đoàn chia 3 mũi phối hợp với dân quân bí mật áp sát phục kích địch ở khu vực đồi Nả Cay. Mật phục tới khi đoàn xe hàng chục chiếc chở quân và đạn tên lửa H12 của địch lọt vào tầm bắn, lệnh công kích phát ra, lính đặc công tiểu đoàn 45 đồng loạt khai hỏa bằng súng AK, B41, lựu đạn, thủ pháo và cối 82 ly. Cả đoàn xe cơ giới gần 20 chiếc của đối phương bị đánh tan tác, gần 200 tên địch bị tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu. Ngay lúc đó, phát hiện có lực lượng địch đóng chốt tại khu vực đồi Thiên Văn, Yên Ngựa bỏ chạy leo lên đồi cao nhìn xuống nơi đồng bọn bị tập kích, nắm đúng thời cơ, trung đội trưởng cối 82 ly ra lệnh đánh. Hàng chục quả đạn đã được tính toán kĩ lưỡng phần tử bắn nối đuôi nhau giội lửa xuống đầu địch, tiêu diệt hơn 100 tên nữa.
Đây thực sự là một trận xuất sắc của đặc công tiểu đoàn 45. Tất cả trận đánh chỉ diễn ra trên 20 phút. Khi bọn địch kịp phản ứng thì cả đơn vị đã nhanh chóng theo 3 chiến sĩ dân quân thọc qua bản Nà Cay, trở về vị trí tập kết an toàn.


Bộ đội Việt Nam hành quân lên chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979

Xe tăng của quân xâm lược Trung Quốc bị quân dân ta bắn cháy ở Cao Bằng
Phát huy thắng lợi, tiểu đoàn tiếp tục lập kế hoạch bí mật tổ chức tập kích địch tại khu vực đường số 4. Từ 15/3 đến 17/3, tiểu đoàn bám trụ huy động lực lượng truy kích đối phương trên đường rút chạy.
Cuối tháng 2/1979, trước tình hình khẩn cấp nơi biên giới, Tổng Tham mưu trưởng quyết định điều động Tiểu đoàn 47 Quân khu 7 về trực thuộc Mặt trận 479 và Tiểu đoàn 406 Quân khu 5 về trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn. Tiểu đoàn 44 ở lại thuộc đội hình Quân đoàn 4.
Nhận lệnh của Bộ, ngày 1/3, Trung đoàn 198b hành quân gấp về nước tăng cường cho Quân khu 1. Tiếp đó, tháng 6/1979, Bộ điều động Trung đoàn đặc công 113 đang ở chiến trường Campuchia về nước làm lực lượng cơ động của Bộ. Tiểu đoàn 45 đã sáp nhập và Trung đoàn 113.


Lính Trung Quốc xâm lược phá hoại cơ sở hạ tầng các tỉnh biên giới của Việt Nam
Theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, tháng 12/1979, Tiểu đoàn 1a và Đoàn A54, Đoàn S74 hoạt động ở phía Tây được lệnh về nước, trực thuộc Đoàn 1 Bộ Tư lệnh Đặc công. Như vậy là đến cuối năm 1979, lực lượng cơ động chiến đấu của Binh chủng Đặc công ở Campuchia đã về nước làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc.
Khi chiến sự biên giới phía Bắc bùng nỏ, Bộ Tư lệnh đặc công đã nhanh chóng triển khai nắm đối tượng tác chiến mới trên các hướng, các địa hình, xây dựng thế đánh linh hoạt của đặc công. Chuyển toàn bộ hoat động của binh chủng vào thời chiến, xây dựng lực lượng luồn sâu đánh hiểm. Đáp ứng yêu cầu chiến đấu, cho đến cuối năm 1979 ở tất các quân khu đều đã tổ chức phòng đặc công, mỗi quân khu có 1 tiểu đoàn đặc công. Ngày 21/8/1979, Bộ trưởng Quốc phòng ký quyết định thành lập Trung đoàn đặc công nước 820
(Bài có sử dụng tư liệu Lịch sử Bộ đội đặc công QĐND Việt Nam 1945-2007 và Không được đụng đến Việt Nam)

Nguồn infonet

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Quốc tế nói về Chiến tranh Biên giới năm 1979

Cách đây đã lâu, giới phóng viên nước ngoài thường trú tại Hà Nội có tiến hành một cuộc thăm dò nhỏ trong giới với câu hỏi “Ai trong số các phóng viên nước ngoài trong các giai đoạn lịch sử quân sự từ các năm 40 đến các năm 70 của thế kỷ XX đã viết đầy đủ nhất, nhiều nhất và khách quan nhất về các sự kiện ở Đông Dương?”.
Có 4 người được lựa chọn là: Nữ nhà báo Pháp M. Riffo, nhà báo Úc R. Burchett và 2 phóng viên chiến trường Nga là I. Shedrov và M. Ilinski. Năm 2000, M.Ilinski là viện sỹ của 3 Viện hàn lâm Nga và thế giới, 3 người còn lại đều đã mất.
Nhân tháng hai, xin trích dịch một phần nhỏ nói về cuộc chiến này của M.Ilinski trong quyển hồi ký “Đông Dương, đống tro tàn của bốn cuộc chiến tranh” của ông do nhà xuất bản “Veche” Matxcova ấn hành năm 2000 thuộc seri sách “Những bí mật quân sự thế kỷ XX”. Xin nói thêm là M.Ilnski là người đã trực tiếp có mặt tại chiến trường biên giới phía Bắc suốt thời gian chiến sự. Do dịch từ tiếng Nga nên một số địa danh và tên rất có thể không chính xác, kính mong bạn đọc thông cảm và bổ sung.

Phần mở đầu của tác giả
Các phóng viên nước ngoài thường trú tại Hà Nội được triệu tập đến Vụ báo chí Bộ ngoại giao Việt Nam (không rõ ngày tháng –ND). Tại đây, một từ khủng khiếp lại được nhắc đến: “Chiến tranh!”. Các phóng viên được thông báo:

“Cần phải chuẩn bị sẵn sàng để làm việc tại các trận địa chiến đấu. Các gia đình (của các phóng viên) cần phải sơ tán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Những ai không kịp sơ tán cần chuẩn bị đổ đầy xăng vào xe để chí ít cũng chạy được khoảng 700 km”. Con trai tôi (Ilinski) là Vasili lúc ấy mới 8 tuổi không có ý định sơ tán. Không những thế, cậu còn đòi cấp cho cậu một khẩu súng ngắn. Quả là một chàng trai thực sự. Nhưng dĩ nhiên, không ai cấp súng cho cậu.

1.     Khiêu khích tại khu vực biên giới
Từ đầu tháng 8/1978, khi các cuộc đàm phán cấp thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề Hoa kiều bắt đầu được tiến hành, chính quyền Trung Quốc cũng đồng thời bắt đầu tăng cường các hoạt động khiêu khích quân sự chống Việt Nam trên suốt dọc tuyến biên giới Trung- Việt.
Thực ra, các hành động xâm nhập biên giới đã được phía Trung Quốc tiến hành một cách có hệ thống ngay từ năm 1974. Năm 1975, đã có tới 294 lần các nhóm vũ trang Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1976, con số các vụ vi phạm đường biên giới là 812, năm 1977- là 873 và đến năm 1978, con số trên đã là 2.175 vụ. Tháng 1/1974, Lực lượng vũ trang Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Năm 1978, số vụ quân đội Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tăng lên từng ngày.
Hoạt động gián điệp, khiêu khích quân sự, phá hoại kinh tế, đe dọa dạy cho “ Việt Nam vô ơn một bài học”, kêu gọi Hoa kiều rời Việt Nam- đây là tất cả những biện pháp phá hoại (nhiều mặt) mà các cơ quan đặc biệt Trung Quốc sử dụng để chống Việt Nam. Họ đã chuẩn bị chiến tranh như thế đấy.

2. Trích từ thông báo của Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam
“ Ngày 10, 15 và 23/8 năm 1978, các cơ quan đặc biệt (tình báo) Bắc Kinh đã điều hàng trăm tàu đánh cá Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Việt Nam tại khu vực các đảo thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh), Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế) ngăn cản ngư dân Việt Nam hành nghề và đe dọa an ninh Việt Nam. Các máy bay Trung Quốc xâm phạm không phận Việt Nam tại các tỉnh Quảng Ninh và Cao Bằng”.

2.     Trích từ sổ tay công tác (của M.Ilinski)
Thứ hai 24/10 (1978). Tại khu vực biên giới tỉnh Hoàng Liên Sơn, lính Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động trinh sát vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, bắt cóc công dân Việt Nam.
Thứ năm 22/12. chính quyền Trung Quốc đơn phương chấm dứt việc vận chuyển hành khách và hàng hóa theo tuyến đường sắt quốc tế nối Trung Quốc với Việt Nam. Lý do được đưa ra là: "tuyến đường sắt khu vực biên giới trên lãnh thổ Trung Quốc bị hư hỏng nặng và gây nguy hiểm cho việc vận hành các đoàn tàu”. Thực ra đây chỉ là cái cớ để che đậy chính sách chống Việt Nam của giới cầm quyền Trung Quốc.
Thứ năm 28/12. Lực lượng khiêu khích Trung Quốc đã tấn công làng Lũng Nội ( ?? ) và đã sát hại một lính biên phòng Việt Nam.
Chủ nhật 31/12. Các phóng viên và các nhà ngoại giao, tập trung đón tết tại khách sạn “ Bờ Hồ” ven Hồ Hoàn Kiếm đều cho rằng chiến tranh là không tránh khỏi. Họ chỉ không thống nhất được với nhau về thời điểm bắt đầu chiến tranh. Có người còn đưa ra thời điểm cụ thể: giữa tháng hai năm 1979.
Thứ hai, 8/01/1979. Một tàu vận tải Trung Quốc có lượng giãn nước 40 tấn đã xâm nhập sâu vào lãnh hải Việt Nam tại khu vực đảo Trà Cổ huyện Móng Cái. Lính biên phòng Việt Nam yêu cầu tàu ngay lập tức ra khỏi lãnh hải Việt Nam. Nhưng tàu này không những không chấp hành mà còn bắn về phía lính biên phòng Việt Nam. Đến 11 giờ thì có thêm 2 tàu quân sự Trung Quốc đến hỗ trợ cho con tàu trên. Liệu đây có phải là một “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” mới như CIA đã từng tiến hành năm 1964?
Thứ bảy 11/01. Vào lúc 5 giờ sáng, lính Trung Quốc xâm nhập sâu đến 500 m vào lãnh thổ Việt nam ở tinh Móng Cái, 01 công nhân Việt Nam bị giết hại và 2 người khác bị thương nặng. Lính Trung Quốc cũng bắt đi một nữ công nhân lâm trường.
Thứ bảy 27/01. Những kẻ khiêu khích Trung Quốc đã xả súng vào lính biên phòng và dân thường Việt Nam tại tỉnh Hoàng Liên Sơn. 3 chiến sỹ biên phòng Việt Nam bị thương nặng.
Chủ nhật 28/01. Phát hiện Trung Quốc tập trung đông quân ở khu vực Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Những kẻ khiêu khích ném lựu đạn và tung hàng nghìn truyền đơn.
Thứ hai 29/01. Hơn 150 lính Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam qua cửa “Hữu Nghị” tại tỉnh Lạng Sơn. 10 g30, những kẻ xâm nhập bắt đầu bắn đạn cối và súng máy. Một số lính biên phòng Việt Nam bị thương. Lính biên phòng Việt Nam buộc phải nổ súng bắn trả và đánh bật các kẻ xâm nhập sang bên kia biên giới.
Thứ ba 30/01. Trong thời gian “Tết” (cả Việt Nam và Trung Quốc đều đón tết âm lịch), những kẻ khiêu khích Bắc Kinh vẫn không chấm dứt các hành động xâm nhập vũ trang, bắn phá các điểm dân cư trên dọc toàn bộ tuyến biên giới. Tại các đèo, các cửa qua lại trên biên giới, phía Trung Quốc bố trí rất nhiều các loa phóng thanh và phát nhiều lần trong ngày, nội dung: dọa dẫm dân chúng Việt Nam là sẽ phát động chiến tranh và trừng phạt “bọn Việt Nam vô ơn”. …..
Thứ ba, 06/02 . Một đại đội lính Trung Quốc tấn công một đồn biên phòng gồm 13 lính biên phòng Việt Nam. 3 chiến sỹ biên phòng hy sinh, 6 bị thương và 3 bị bắt đưa về Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên một sự việc như vậy xảy ra tại tinh Lai Châu.
Mười một ngày sau đó, rạng sáng ngày 17/02/1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam.
Trung Quốc chọn thời điểm ngày 17/02 không phải là ngẫu nhiên. Bắc Kinh đã hoàn thành công tác chuẩn bị chính trị- tâm lý và quân sự. Không những thế, còn tiến hành thăm dò ngoại giao. Trước đó, Đặng Tiểu Bình đã có chuyến thăm Washington và Tokyo.
Trung Quốc muốn trừng phạt Việt Nam vì sự sụp đổ của chế độ Polpot; nắn gân lực lượng phòng thủ biên giới của Việt Nam, và nếu có thể được thì tiến thẳng vào Hà Nội; một lần nữa đưa ra đòi hỏi về lãnh thổ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

4. Thông tin bổ sung để biết và suy ngẫm (cũng của tác giả M.Ilinski)
Trong thời kỳ thuộc địa, cả 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đều là lãnh thổ của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Tại các nơi đó đã có các đơn vị đồn trú bảo vệ do lính Việt Nam đảm nhiệm. Năm 1927, con tàu “ De Lanessan (Pháp) đã đưa một đoàn thám hiểm- tìm kiếm Pháp đổ bộ lên quần đảo Trường Sa.
Năm 1930, với sự có mặt của tàu tuần tiễu La Malises, quần đảo Trường Sa chính thức thuộc quyền quản lý của Pháp. Năm 1933, sau chuyến thám hiểm do 3 tàu Pháp tiến hành, Pháp chính thức tuyên bố chủ quyền đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Sau đó, Trường Sa được sát nhập vào tỉnh Ba Rịa, còn trên đảo Thái Bình, Pháp đã xây dựng một trạm khí tượng.
Vào năm 1951, tại Hội nghị San Fransisco, các bên tham dự Hội nghị đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó mấy năm, khi Pháp rút quân viễn chinh ra khỏi Việt Nam, chính phủ Sài Gòn đã thành lập các cơ quan chính quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ năm 1961, về mặt hành chính Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam của Cộng hòa Việt Nam. Việt Nam đã tiến hành kiểm soát, thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trên cả 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong tuyên bố ngày 30/12/1978, Bộ ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tái khẳng định là Hoàng Sa và Trường Sa là phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

5. Một vài ý kiến của các nhà nghiên cứu và dư luận Mỹ (do tác giả trích)
Giáo sư R.Hager thuộc Trường đại học Jacson ( Mỹ), trong thời gian chiến tranh (chống Mỹ) là sỹ quan tình báo Không quân Mỹ trực tiếp tham chiến tại chiến trường Việt Nam khẳng định rằng: theo các dữ liệu của Tình báo Không quân và Lục quân Mỹ thì Trung Quốc đã lấy hết những loại vũ khí tốt nhất (mà Liên Xô) cung cấp cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc.
Những ví dụ cụ thể: Trung Quốc đã biển thủ các tên lửa Liên Xô cung cấp cho Việt Nam để đánh trả các cuộc không kích của Không quân Mỹ. Bằng những hành động trên, theo nhận xét của R. Hager, Trung Quốc đã bán đứng Việt Nam, chứ không phải là “dành cho Việt nam sự giúp đỡ vô tư hào phóng” như vẫn thường rêu rao.
Theo tờ “Christian Science” ( Mỹ) thì Trung Quốc đã tìm mọi cách để ngăn cản Việt Nam đấu tranh chống lại các âm mưu của Mỹ phá hoại Hiệp định Paris. Các nhà ngoại giao Trung Quốc đã khuyến cáo Mỹ không nên rút quân ra khỏi Đông Nam Á.

6. Vài nhận xét của tác giả
Tiến hành một cuộc phiêu lưu quân sự chống Việt Nam, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã để lộ bộ mặt thật là những kẻ thừa kế tư tưởng bành trướng Đại Hán, ép nước này thay đổi đường lối chính trị, dọa dẫm Lào, ủng hộ lực lượng Polpot còn sót lại ở Căm Pu Chia. Đây là ba mục tiêu chính của cuộc chiến chống Việt Nam.
Chiến tranh đã kéo dài một tháng, kết thúc bằng thảm bại của Trung Quốc cả về chính trị lẫn quân sự. 1/10 số lính Trung Quốc (trong số 600.000 quân tham chiến) đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.
Cuộc chiến này cũng làm lộ rõ bộ mặt thật của những kẻ xâm lược. Trong thời gian từ 17/02 đến 18/3, lính Trung Quốc đã giết và làm bị thương hàng trăm trẻ em Việt Nam, cắt cổ tất cả các thành viên của nhiều gia đình. Tôi (Ilinski ) thường liên tưởng tới vụ thảm sát Sơn Mỹ. Trong suốt thời gian xảy ra chiến sự, tôi (Ilinski) đã có mặt trên tuyến biên giới Việt- Trung (và được trao tặng giải thưởng của Hội nhà báo Liên Xô vì những bài phóng sự viết tại đây).
Và đây là những gì tôi đã chứng kiến:
Lính Trung Quốc đã giết 43 phụ nữ và trẻ em, thiêu sống 27 người ở Cao Bằng. Xóa sổ 164 làng, phá hủy 25 hầm mỏ, 55 xí nghiệp công nghiệp (trong số 68 xí nghiệp bị chúng tấn công). Các hầm mỏ khai thác apatit và thiếc có ý nghĩa kinh tế quan trọng bị hư hại nặng. Phá hủy hoàn toàn xí nghiệp dệt ở Lào Cai.
Mạng lưới giao thông ở phía Bắc Việt Nam bị hư hại nặng. Các cầu, công trình thủy lợi, 10 nhà máy thủy điện và các trạm bơm nước đều bị phá hỏng hoặc phá hủy; lính Trung Quốc dùng mìn đánh hỏng 90 km đường sắt. Phá hủy và cướp 500 xe ô tô, 20.000 con trâu bò và ngựa, đốt 34 khu rừng , thiêu trụi hàng nghìn hecta rừng ở Lai Châu, Hà Tuyên, Cao Bằng, Quảng Ninh và Lạng Sơn.
Trung Quốc khởi động chiến tranh vào mùa gieo cấy vụ xuân, chính vì vậy mà nông dân không thể trồng trọt được trên 85.000 hecta đất canh tác. Bọn xâm lược đã ăn cướp của nông dân gạo và các loại lương thực khác, dụng cụ sinh hoạt gia đình, thậm chí cả khung cửa sổ và cánh cửa.
Trong 6 tỉnh phía bắc Việt Nam đã có 45.000 ngôi nhà ở nông thôn và 600.000 m2 nhà ở tại các thành phố thị xã bị phá hủy. 350.000 người sống cảnh màn trời chiếu đất. Phá hủy 32 trường chuyên nghiệp, hơn 900 trường phổ thông; 180.000 học sinh không được đến trường; tài sản của 428 bệnh viện, trạm y tế và hiệu thuốc bị chúng cướp đi.
Thêm một nỗi đau riêng của giới làm báo. Ngày 7/3/1979, tại Lạng Sơn, người đồng nghiệp, đồng chí và là người bạn rất thân của tôi – phóng viên Nhật Bản Isao Takano đã bị sát hại.
Một viên đạn bắn tỉa của lính Trung Quốc đã bắn xuyên thái dương từ phải sang trái của Takano. Tôi là người cuối cùng nhìn thấy Takano còn sống trên mặt trận. Chính tôi đã đưa xác anh vào xe. (sau này, nhà nước Việt Nam đã truy tặng I. Takano huấn chương “ Hữu nghị” (chú thích là của tác giả).

7. Bọn xâm lược đã bị đánh trả đích đáng như thế nào
Sáng sớm ngày 19/3/1979. Phòng trực trụ sở báo “ Izvestia” tại Hà Nội vang lên tiếng chuông điện thoại. Trực ban Vụ báo chí Bộ ngoại giao Việt Nam thông báo là chiều nay, vào lúc 14 h, tại Câu lạc bộ quốc tế sẽ diễn ra cuộc họp báo do tướng Cao Văn Khánh, Phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN chủ trì phân tích kết quả tình hình quân sự từ 17/2 đến 18/3.
Có lẽ chưa bao giờ tại Câu lạc bộ quốc tế Hà Nội lại tập trung nhiều phóng viên nước ngoài đến như vậy. Có cả những phóng viên tự xưng là trung lập vừa bay đến Việt Nam để dự cuộc họp báo này, nhưng có lẽ không khó để nhận ra rằng, trong một chừng mực nào đó, các phóng viên nói trên có “quan hệ” với các cơ quan đặc biệt Mỹ và Trung Quốc.
Mở đầu cuộc họp báo, tướng Cao Văn Khánh đưa ra một số đánh giá về khía cạnh chính trị của cuộc xâm lược của Trung Quốc…
Tuy mới chỉ có bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương, dân quân và toàn bộ nhân dân vùng biên giới tham chiến đánh trả bọn bành trướng xâm lược vàViệt Nam chưa đưa bộ đội chủ lực vào tham chiến (chữ in nghiêng là của tác giả -ND) nhưng đã làm cho địch phải chịu những thất bại nặng nề .
Trong ba mươi ngày đêm chiến sự cực kỳ khốc liệt, quân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 tên xâm lược (hơn 1/10 lực lượng tham chiến), xóa sổ 3 trung đoàn và 18 tiểu đoàn, bắn cháy 550 xe chiến đấu, trong đó có 280 xe tăng và xe vận tải bọc thép, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối, thu nhiều vũ khí và đạn dược. Bắt nhiều tù binh.
Một phóng viên Phương Tây yêu cầu làm rõ con số tù binh. Tướng Khánh chỉ về phía nhóm phóng viên truyền hình Mỹ và nói: “ Xin hãy hỏi họ. Họ mới ở một trại tù binh về. Chỉ riêng trong trại đó đã có 104 tù binh Trung Quốc”.
Phóng viên “ France Press” hỏi về nguyên nhân tại sao tốc độ xâm nhập của quân Trung Quốc lại chậm như vậy, và tại sao quân Trung Quốc chỉ có thể vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam tối đa là 10 đến 50 km. Tuy nhiên, sau đó ông đã tự nhận xét ngay tại cuộc họp báo là chiến dịch quân sự của Trung Quốc là một thất bại thảm hại cả về khía cạnh chính trị lẫn quân sự.
Khi xâm nhập Việt Nam, quân Trung Quốc cũng đi qua 30 eo núi và đèo mà hàng nghìn năm nay quân xâm lược Phương Bắc đã từng đi qua để tới đồng bằng Sông Hồng. Tính toán ban đầu của Trung Quốc là trong vòng 2 đến 3 ngày đêm sẽ quét sạch lực lượng biên phòng Việt Nam, chiếm Hoàng Liên Sơn mà không phải chịu tổn thất nào đáng kể .
Trung Quốc còn lên kế hoạch là tại các khu vực biên giới, nơi Trung Quốc đã cài cắm rất nhiều gián điệp, các dân tộc thiểu số sẽ nổi loạn chống chính quyền và đòi tách ra khỏi Việt Nam.
Thế nhưng bọn xâm lược đã thất bại trên tất cả các mặt. Tốc độ hành quân sâu vào nội địa không vượt quá 2 đến 3 km một ngày đêm. “ Biển người Trung Quốc” đã bị chững lại trước ý chí sắt thép của quân dân Việt Nam.
Bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương, dân quân du kích đã đánh lùi quân xâm lược. Trung Quốc đã tung hơn 20 sư đoàn vào cuộc chiến và 1/10 trong số đó đã nằm lại trên đất Việt Nam, không vào sâu được quá 50 km (đấy là các nhóm biệt kích, còn lực lượng chủ lực chỉ tiến đến Phố Lu là tối đa- cách biên giới 34 km).
Tính toán về việc nhân dân các dân tộc thiểu số nổi loạn cũng không thành. Các cơ quan an ninh quốc gia , bộ đội biên phòng kết hợp với nhân dân địa phương đã bắt giữ bọn gián điệp. Nhân dân các dân tộc Việt Nam một lần nữa thể hiện ý chí thống nhất dân tộc.
“Đối với nhân dân Việt Nam, mỗi tấc đất của tổ quốc là thiêng liêng- tướng Khánh nói,- Kẻ thù sẽ không báo giờ có thể cướp được dù một mẩu đất của chúng tôi. Chúng tôi phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng đánh trả bọn xâm lược, nếu như chúng không từ bỏ các âm mưu bành trướng”.
Nhưng không nên nghĩ rằng, sau khi chịu thất bại mùa xuân năm 1979, giới lãnh đạo Bắc Kinh sẽ từ bỏ các kế hoạch bành trướng. Bắc Kinh vẫn tiếp tục đưa ra các lời đe dọa “dạy cho Việt Nam một bài học thứ hai”. Các đơn vị quân đội (Trung Quốc) được tăng cường ở khu vực biên giới, gồm cả các đơn vị tăng và pháo binh .

8. Gieo gió…
Ngày 5/3/1979, Bắc Kinh tuyên bố bắt đầu rút quân. Còn nhớ vào thời kỳ căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam (chống Mỹ), khi một số quan chức Mỹ đã nhận thức được là không thể thắng trong cuộc chiến này, thượng nghị sỹ Mỹ J.Iken đã khuyên chính phủ Mỹ: “ Hãy tuyên bố với toàn thế giới là Mỹ đã thắng trong cuộc chiến và rút quân ra khỏi Việt Nam”. Rất tiếc là chính quyền lúc đó đã không nghe theo lời khuyên và sau này đã rất hối tiếc.
Có lẽ, lời khuyên của Thượng nghị sỹ Mỹ này rất có ích cho Bắc Kinh. Việc rút quân được tuyên truyền ầm ỹ như một thắng lợi của Trung Quốc. Báo “ Quang minh nhật báo” còn “chúc mừng” Quân đội (Trung Quốc) đã giành được “một chiến thắng lớn”.
Nhưng toàn thế giới đều biết rằng, Việt Nam chưa cần sử dụng quân chủ lực đã đập tan đội quân tấn công của Trung Quốc.
 (Nguồn Baodatviet)


Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang